Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm thực hiện chế định Luật sư công với đa số đại biểu tán thành (chiếm 93,4%) theo đó chính thức thí điểm tại 08 Bộ và 10 địa phương có phạm vi quản lý rộng, tính chất công việc phức tạp, mức độ phát triển kinh tế - xã hội cao qua đó có khả năng phát sinh nhiều vụ việc thuộc phạm vi hoạt động của luật sư công; quy định này là sự thể chế hóa Nghị quyết số 27-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, trong đó đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu hình thành chế định luật sư công và Kết luận số 23-KL/TW của Bộ Chính trị, bảo đảm tính thống nhất về chủ trương và định hướng chính sách. Phần lớn người dân ủng hộ xem đâ như bước đi tất yếu để hoàn thiện nhà nước pháp quyền, đây là giải pháp cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đặc biệt trong các vụ tranh chấp quốc tế, đầu tư, thương mại phức tạp đồng thời tin tưởng mô hình này sẽ nâng cao chất lượng quyết định hành chính và tư vấn pháp luật nội bộ. Bên cạnh đó, một số ý kiến lo ngại về tín độc lập và xung đột lợi ích, thậm chí một số ý kiến mang tính định kiến khi cho rằng mô hình Luật sư công nhằm “kiểm soát nghề luật sư”, “xóa bỏ luật sư tư nhân” hoặc “độc quyền dịch vụ pháp lý”; “làm tăng gánh nặng ngân sách”, “nuôi bộ máy cồng kềnh, kém hiệu quả”, “trao đặc quyền”; “không độc lập”, “chỉ bảo vệ lợi ích của cơ quan nhà nước”…
Trước hết cần khẳng định rằng mô hình này x uất phát từ thực tiễn cải cách tư pháp và quản trị quốc gia. Theo Bộ Tư pháp, số lượng vụ án hành chính tăng qua từng năm, từ 9.156 vụ thụ lý năm 2020 lên 12.057 vụ năm 2024; tuy nhiên, trong giai đoạn 2020-2024, tỷ lệ giải quyết chỉ đạt 52,53%, nguyên nhân chủ yếu là do nhiều vụ án có tính chất phức tạp; khó khăn trong việc triệu tập người bị kiện tham gia tố tụng; đồng thời các cơ quan còn thiếu nhân sự chuyên trách, chưa được tập huấn nghiệp vụ và kinh nghiệm tham gia tố tụng. Mặt khác, tỷ lệ các vụ kiện hành chính mà Tòa án tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính vẫn ở mức cao; điều này phản ánh những hạn chế trong việc kiểm soát tính hợp pháp của các quyết định hành chính trước khi ban hành, cũng như năng lực tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước. Đáng chú ý, cả nước hiện có 2.981 dự án tồn đọng, kéo dài nhiều năm với giá trị nguồn lực rất lớn đang bị lãng phí, nguyên nhân chủ yếu do vướng mắc pháp lý liên quan đến đất đai, quy hoạch, thủ tục và những tồn tại trong quá trình thực hiện dự án; vấn đề này đặt ra nhu cầu cấp thiết phải có lực lượng pháp lý chuyên sâu để tư vấn, đại diện cho Nhà nước trong xử lý các vấn đề phát sinh. Bên cạnh đó, các tranh chấp đầu tư thương mại quốc tế ngày càng gia tăng và phức tạp và khiếu nại, tố cáo - đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, bồi thường, tái định cư - vẫn chiếm tỷ lệ lớn, tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp. Vì vậy việc hình thành đội ngũ luật sư công trong cơ quan Nhà nước là rất cần thiết nhằm ngăn ngừa rủi ro pháp lý từ sớm, nhất là đối với các vụ việc, vụ kiện liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội.
Việc hình thành đội ngũ luật sư công không làm thay đổi bản chất nghề luật sư, mà là mở rộng cấu trúc của hệ thống dịch vụ pháp lý theo hướng đa dạng, chuyên sâu và phù hợp hơn với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Theo Nghị quyết, nhiệm vụ trọng tâm của luật sư công là tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các cơ quan Nhà nước, đồng thời thực hiện tư vấn pháp luật và đại diện giải quyết các tranh chấp đa dạng từ đầu tư, thương mại đến công pháp quốc tế, hành chính và dân sự. Khác với luật sư tư - những người hành nghề độc lập hoặc trong các tổ chức hành nghề luật sư để cung cấp dịch vụ pháp lý theo cơ chế thị trường - luật sư công gắn với khu vực công, hoạt động theo quy định pháp luật của Nhà nước và phục vụ trực tiếp cho các mục tiêu quản trị công. Luật sư công đóng vai trò thiết yếu trong bộ máy pháp lý Nhà nước với phạm vi công việc trải rộng từ cấp Trung ương đến địa phương đồng thời luật sư công còn là những chuyên gia tư vấn đắc lực trong việc xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến dự án kinh tế - xã hội, cũng như tham gia giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài. Việc hình thành thiết chế này là bước đi quan trọng nhằm chuyên nghiệp hóa hoạt động pháp lý trong khu vực Nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước trong bối cảnh các tranh chấp ngày càng gia tăng.
Luật sư công là thiết chế bổ trợ tư pháp nhằm tăng thêm lựa chọn cho người dân; theo đó luật sư công tập trung vào các lĩnh vực gắn với lợi ích công và hoạt động của Nhà nước trong khi đó, luật sư tư tiếp tục hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, doanh nghiệp theo cơ chế thị trường, bao gồm tư vấn, đại diện, bào chữa và các dịch vụ pháp lý khác theo nhu cầu của khách hàng; điều này sẽ giúp tận dụng tối đa thế mạnh của từng khu vực, đồng thời bảo đảm sự phát triển hài hòa của thị trường dịch vụ pháp lý. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, mô hình luật sư do Nhà nước hỗ trợ hoặc hệ thống trợ giúp pháp lý công đã tồn tại từ lâu để bảo đảm mọi công dân đều có cơ hội được bảo vệ quyền lợi trước pháp luật; do đó, việc nghiên cứu mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam là bước đi bình thường, tiến bộ và cần thiết. Vì vậy, không thể nói vệc hình thành Luật sư công là “kiểm soát nghề luật sư”, “xóa bỏ luật sư tư nhân” hoặc “độc quyền dịch vụ pháp lý”; “đi ngược xu thế quốc tế”. Mặt khác, t heo Kết luận số 23-KL/TW ngày 07/4/2026, luật sư công tại Việt Nam sẽ không thành lập cơ quan, tổ chức độc lập; thay vào đó, họ làm việc trực tiếp tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước và chịu sự quản lý theo quy định về cán bộ, công chức, viên chức, hoặc sĩ quan lực lượng vũ trang; do đó luật sư công sẽ không “làm tăng gánh nặng ngân sách”, “nuôi bộ máy cồng kềnh, kém hiệu quả”; tuy nhiên xét góc độ vĩ mô, mọi chính sách công đều phải được tính toán trên cơ sở hiệu quả tổng thể và lợi ích xã hội lâu dài. Nếu người dân được tiếp cận tư vấn pháp lý sớm, được hỗ trợ trong tranh chấp dân sự, lao động, đất đai hay tố tụng hình sự, nhiều mâu thuẫn sẽ được giải quyết từ gốc, giảm chi phí khiếu kiện kéo dài, giảm áp lực cho cơ quan tố tụng và tăng niềm tin xã hội vào công lý. Vì vậy, đầu tư cho tiếp cận pháp lý không phải là gánh nặng, mà là đầu tư cho ổn định xã hội và phát triển bền vững.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế sâu rộng, quan hệ dân sự, thương mại, lao động ngày càng đa dạng, nhu cầu được hỗ trợ pháp lý của người dân ngày càng lớn. Không phải ai cũng có điều kiện thuê dịch vụ pháp lý chất lượng cao; do đó, bổ sung cơ chế hỗ trợ pháp lý công là giải pháp cần thiết để thu hẹp khoảng cách tiếp cận công lý giữa các nhóm xã hội. Ngoài ra, dù hoạt động trong khu vực công hay tư, luật sư vẫn phải tuân thủ pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp và nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thân chủ. Cơ chế quản lý, giám sát và chuẩn mực nghề nghiệp chính là yếu tố bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp, chứ không phải chỉ dựa vào hình thức tổ chức. Xét về trách nhiệm, luật sư công phải tuân thủ sự phân công của cơ quan có thẩm quyền, đồng thời nỗ lực sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất lợi ích của Nhà nước, trên cơ sở duy trì tính độc lập và đạo đức nghề nghiệp. Như vậy không có chuyện luật sư công sẽ “không độc lập”, “chỉ bảo vệ lợi ích của cơ quan nhà nước”.
Có thể thấy Luật sư công là thiết chế mới nhằm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý cho người dân và định hướng phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm công bằng trong tiếp cận công lý. Hãy cảnh giác với các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ mô hình này nhằm gây hoang mang dư luận, cản trở tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam; Nnững vấn đề liên quan đến cải cách tư pháp cần được tiếp cận bằng tư duy khoa học, khách quan, vì lợi ích chung chứ không bằng cảm xúc cá nhân.

Tác giả bài viết: Bình Minh