Những nội dung mới, nổi bật của các dự án luật do Bộ Công an chủ trì soạn thảo trình quốc hội khóa XVI tại kỳ họp không thường lệ tháng 8/2026

Thứ ba - 28/07/2026 05:49 23 0
Dự kiến tại Kỳ họp không thường lệ tháng 8 năm 2026, Bộ Công an trình Quốc hội khóa XVI dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi), dự án Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi) và Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Đây là những dự án Luật có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần hoàn thiện pháp luật về an ninh, trật tự, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới.

Dưới đây là một số điểm mới, nổi bật của 03 dự thảo văn bản nêu trên, Trang Thông tin điện tử Công an thành phố thông tin đến cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân biết, nghiên cứu, tham gia ý kiến.

1. Dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi)

a) Bổ sung Điều 4a nhằm làm rõ và chuẩn hóa các khái niệm nền tảng

- Rõ ràng hóa các chủ thể/khái niệm pháp lý: Phân định chính xác các khái niệm “Hành vi phạm tội”, “Người thực hiện hành vi phạm tội”, “Người phạm tội” (chưa bị kết án) và “Người bị kết án” (đã bị kết án bằng bản án của Tòa án).

- Tiêu chuẩn hóa việc so sánh mức độ Tội danh: Định nghĩa rõ ràng thế nào là Tội danh bằng nhau, Tội danh nặng hơn, và Tội danh nhẹ hơn dựa trên mức phạt khởi điểm và mức phạt cao nhất của khung hình phạt.

- Định tiết tình tiết “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính”: Quy định rõ tình tiết này chỉ được dùng để định tội khi tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm hành chính, người đó đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với điều luật tương ứng.

- Mở rộng định nghĩa “Người có chức vụ, quyền hạn”: Bao gồm cả những người thực hiện công vụ/nhiệm vụ thông qua hình thức hợp đồng.

b) Bổ sung và linh hoạt hóa nhiều căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự nhằm bảo vệ cán bộ, nhà khoa học, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo

- Cơ chế bảo vệ khi xử lý “tình thế cấp thiết” (khoản 1 Điều 23): Bổ sung quy định người ra quyết định ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu quyết định dựa trên thông tin tại thời điểm đó, đúng thẩm quyền và không vì động cơ vụ lợi.

- Thử nghiệm mô hình kinh doanh mới (Điều 25): Mở rộng phạm vi loại trừ trách nhiệm hình sự sang các hành vi thử nghiệm có kiểm soát công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm dịch vụ, mô hình kinh doanh mới trong phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo (khi đã tuân thủ đúng quy trình/đề án được duyệt).

- Bảo vệ lực lượng vũ trang thi hành nhiệm vụ (Điều 26a): Bổ sung mới Điều 26a quy định người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, phòng chống tội phạm nếu đã thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật mà vẫn gây thiệt hại thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

c) Dự thảo thể hiện tư duy mới trong xử lý tội phạm kinh tế nhằm khôi phục thiệt hại và phát triển kinh tế - xã hội

Chế định “Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự” (Điều 27a): Lần đầu tiên cho phép tạm hoãn trách nhiệm hình sự (tối đa 2 năm, có thể gia hạn 1 lần không quá 1 năm) đối với người phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Chương XVIII) nếu: Hành vi vì mục đích phát triển kinh tế/quốc phòng; Không tham nhũng; Dự án còn dở dang do nguyên nhân khách quan nhưng có phương án khả thi để khắc phục.

Bổ sung căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với quy định trên (điểm d khoản 2 Điều 29): Nếu được tạm hoãn trách nhiệm hình sự theo Điều 27a mà đã khắc phục xong hậu quả và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

d) Thay đổi quan trọng về hình phạt và thi hành án

- Giảm bớt án tử hình thực tế (khoản 3 Điều 40): Bổ sung trường hợp không thi hành án tử hình (chuyển thành tù chung thân) đối với người bị kết án mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối. Đồng thời bỏ hình phạt tử hình của 06 tội danh: tội bạo loại (Điểu 112), tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251), tội chống loài người (Điều 422), tội phạm chiến tranh (Điều 423), tội khhủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113 hiện hành, được nhập vào tội khủng bố của Điều 299).

- Chuyển đổi hình phạt cải tạo không giam giữ (khoản 5 Điều 36): Nếu người chấp hành án cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án quyết định chuyển phạt cải tạo không giam giữ còn lại thành hình phạt tù (theo tỷ lệ 03 ngày cải tạo không giam giữ thành 01 ngày tù).

- Tăng mức phạt tiền tối thiểu và quy định phạt tiền theo mức thu lợi bất chính (khoản 3 Điều 35): Mức tiền phạt không được thấp hơn 5.000.000 đồng (tăng từ 1.000.000 đồng lên 5.000.000 đồng) và căn cứ vào mức thu lợi bất chính để phạt tiền, nhưng số tiền phạt không vượt quá gấp 03 lần so với mức thu lợi bất chính.

đ) Bổ sung các biện pháp tư pháp phù hợp kỷ nguyên số (Điều 46 và Điều 47)

Để ứng phó hiệu quả với tội phạm công nghệ cao và không gian mạng, dự thảo bổ sung các biện pháp tư pháp áp dụng cho cả cá nhân và pháp nhân: (1) Tịch thu, tiêu hủy dữ liệu số trái phép; (2) Buộc dừng hoạt động tên miền, địa chỉ IP; (3) Buộc thu hồi khóa mật mã.

e) Điểm mới về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại và cá nhân liên quan

- Quy định rõ trách nhiệm hình sự của cá nhân đại diện/liên quan (khoản 3 Điều 75): Người tổ chức thực hiện hành vi phạm tội của pháp nhân chịu mức hình phạt bằng 1/2 mức hình phạt áp dụng cho cá nhân phạm tội tương ứng. Người thực hành chịu mức hình phạt bằng 1/3 mức hình phạt áp dụng cho cá nhân phạm tội tương ứng. Nếu pháp nhân bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn do thành lập chỉ để phạm tội/che giấu tội phạm, người tổ chức và thực hành phải chịu 100% mức hình phạt như cá nhân phạm tội tương ứng.

- Thay đổi mức phạt tiền đối với pháp nhân (khoản 2 Điều 77): Nâng mức tiền phạt tối thiểu đối với pháp nhân thương mại phạm tội từ 50.000.000 đồng lên 100.000.000 đồng.

g) Điều chỉnh các tình tiết tăng nặng/giảm nhẹ/tội danh

- Tình tiết tăng nặng mới (Điều 52): Bổ sung hành vi phạm tội nhằm “chống chính quyền nhân dân” (điểm c1) và tình tiết người phạm tội “Bỏ trốn và có quyết định truy nã” (điểm q).

- Bổ sung tình tiết giảm nhẹ (Điều 51): Bổ sung tình tiết người phạm tội thành khẩn khai báo trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự.

- Bổ sung tình tiết định khung tội giết người (Điều 123): Bổ sung trường hợp giết người “Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang cai nghiện trong cơ sở cai nghiện công lập” vào khung hình phạt cao nhất (từ 15 - 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình).

- Bãi bỏ Chương XII quy định về “Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”.

2. Dự án Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi)

a) Tinh gọn hệ thống tổ chức Cơ quan điều tra - Thay đổi mang tính đột phá

- Dự thảo đề xuất bỏ Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân khỏi hệ thống Cơ quan điều tra (Điều 3 dự thảo; bỏ Điều 7 và Chương IV hiện hành).

- Chuyển giao thẩm quyền: Thẩm quyền điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng, chức vụ trong hoạt động tư pháp (trước đây thuộc Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao/Viện kiểm sát quân sự Trung ương) được chuyển giao cho Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an (khoản 3 Điều 14) và Cơ quan an ninh điều tra Bộ Quốc phòng (khoản 2 Điều 18).

- Bỏ các điều luật quy định chi tiết về tổ chức bộ máy nội bộ của Cơ quan an ninh điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an nhân dân và Quân đội nhân dân (bỏ các Điều 15, 18, 22, 25, 29 hiện hành).

Theo đó, dự thảo quy định Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết về tổ chức bộ máy các Cơ quan điều tra thuộc thẩm quyền quản lý căn cứ theo cơ cấu tổ chức chung (khoản 3 Điều 4, khoản 3 Điều 5).

b) Tái cấu trúc, sắp xếp lại thẩm quyền của Cơ quan điều tra các cấp

- Bỏ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện: Dự thảo đã bỏ hoàn toàn Điều 21 quy định về “Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an cấp huyện”.

- Cơ quan cảnh sát điều tra cấp tỉnh sẽ đảm nhận điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân (trừ các tội thuộc thẩm quyền của Cơ quan an ninh điều tra và Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an).

- Phát triển vai trò, thẩm quyền của Công an cấp xã: Dự thảo bổ sung quy định Cơ quan cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra Công an cấp xã, Đồn Công an, cũng như kiểm tra chấp hành pháp luật đối với Điều tra viên trung cấp, cao cấp là Trưởng (hoặc Phó trưởng) Công an cấp xã (khoản 3 Điều 17).

c) Bổ sung các nguyên tắc xác định thẩm quyền điều tra (Điều 7 dự thảo)

Dự thảo bổ sung 01 điều luật mới (Điều 7) quy định rõ ràng các nguyên tắc phân định thẩm quyền điều tra:

- Tội phạm trên không gian mạng và nhiều địa bàn: Trường hợp phạm tội ở nhiều địa phận hoặc trên không gian mạng, Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm đang thụ lý sẽ tiến hành điều tra toàn bộ vụ án (khoản 3).

- Xử lý chồng chéo khi 1 người phạm nhiều tội: Quy định cơ chế phối hợp với Viện kiểm sát để xác định “tội phạm chính”. Tội phạm chính thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nào thì cơ quan đó thụ lý giải quyết toàn bộ vụ án, tránh việc tách vụ án làm ảnh hưởng tính khách quan (khoản 2).

- Cơ chế ủy thác điều tra đối với bị hại/người phạm tội là quân nhân: Khi Cơ quan an ninh/cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh điều tra vụ án không liên quan bí mật quân sự hay khu vực quân sự nhưng có đối tượng/bị hại là quân nhân, Công an cấp tỉnh vẫn tiến hành điều tra nhưng ủy thác cho Cơ quan điều tra trong Quân đội để điều tra các tình tiết liên quan đến quân nhân (khoản 2 Điều 15, khoản 2 Điều 17).

d) Bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm và đối tượng được bảo vệ

- Mở rộng phạm vi hành vi bị nghiêm cấm: Bổ sung hành vi nghiêm cấm “Làm sai lệch hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm” bên cạnh việc làm sai lệch hồ sơ vụ án (khoản 1 Điều 13).

- Mở rộng đối tượng bảo vệ: Trách nhiệm bảo vệ của Cơ quan điều tra khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm được mở rộng không chỉ đối với “người tố giác tội phạm” mà còn bảo vệ cả “người làm chứng, bị hại và người thân thích của họ” (khoản 3 Điều 11).

đ) Điều chỉnh thẩm quyền và phạm vi của các Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

- Bổ sung các đơn vị mới: Dự thảo bổ sung Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao vào danh sách các cơ quan thuộc Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (khoản 6 Điều 8 dự thảo); bổ sung lực lượng “Đoàn Trinh sát” vào danh sách thuộc Bộ đội Biên phòng và Cảnh sát biển (khoản 1, khoản 4 Điều 8, khoản 2 Điều 23).

- Cập nhật tên gọi/mô hình tổ chức phù hợp thực tiễn: Thay đổi tên gọi/mô hình từ Cục/Chi cục sang Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (khoản 3 Điều 8, Điều 26), Cục Thủy sản và Kiểm ngư (khoản 5 Điều 8, Điều 27), Chi cục Hải quan khu vực (khoản 2 Điều 8, Điều 25).

- Thu hẹp quyền hạn điều tra vụ án của Hải quan, Kiểm lâm, Kiểm ngư: Dự thảo đã bỏ thẩm quyền tự kết thúc điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng của Hải quan (khoản 1 Điều 25), Kiểm lâm (khoản 1 Điều 26) và Kiểm ngư (khoản 1 Điều 27). Các cơ quan này khi phát hiện tội phạm sẽ khởi tố vụ án, tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày.

e) Chuẩn hóa tiêu chuẩn và Đội ngũ Điều tra viên

- Tăng tuổi phục vụ của Điều tra viên (Điều 44): Đề xuất điều chỉnh tăng tuổi phục vụ đối với lực lượng Điều tra viên để tận dụng kinh nghiệm, năng lực tố tụng và phục vụ công tác điều tra các vụ án phức tạp.

- Nâng chất lượng Điều tra viên: Bổ sung cơ chế đào tạo, bổ nhiệm và gán trách nhiệm pháp lý rõ ràng hơn đối với lực lượng cán bộ làm công tác điều tra.

3. Dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số

a) Đổi mới tuy duy trong chính sách: Khoan hồng, bảo vệ người năng động, sáng tạo “vì lợi ích chung”

- Quan điểm xử lý: Tách bạch rõ ràng giữa hành vi tham nhũng, trục lợi với các vi phạm do năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm vì lợi ích chung.

- Ưu tiên biện pháp phi hình sự: Tăng cường áp dụng các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính; xử lý hình sự chỉ là biện pháp cuối cùng.

- Điều kiện tiên quyết: Để được hưởng các cơ chế đặc thù, cá nhân/tổ chức vi phạm phải “Không tham nhũng” (không có hành vi tham nhũng, không vụ lợi/lợi ích nhóm) và hành vi thực hiện “Vì lợi ích chung” (vì lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng, ngành, địa phương...).

b) Các cơ chế xử lý tố tụng hình sự đặc thù và đột phá

Dự thảo đưa ra các chính sách phân loại xử lý theo từng giai đoạn tố tụng và thi hành án:

- Không truy cứu/Miễn trách nhiệm hình sự (Điều 5 và Điều 8): Điều kiện là không tham nhũng; vì lợi ích chung; các hoạt động kinh doanh/khoa học công nghệ/chuyển đổi số đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội; không có khiếu nại/tố cáo kéo dài; không gây thất thoát hoặc đã khắc phục toàn bộ hậu quả; khai báo trung thực, hợp tác.

Hậu quả pháp lý: Cơ quan tố tụng ra quyết định không khởi tố vụ án, hoặc đình chỉ điều tra/đình chỉ vụ án. Người được miễn trách nhiệm hình sự sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính ở khung cao nhất.

- Loại trừ trách nhiệm hình sự do rủi ro khoa học công nghệ, chuyển đổi số (Điều 6): Thiệt hại phát sinh khi thực hiện đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nếu đã tuân thủ đúng quy trình, áp dụng đủ biện pháp phòng ngừa thì được loại trừ trách nhiệm hình sự.

Tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý: Người thực hiện công vụ gặp rủi ro trong bối cảnh chưa có quy định pháp luật điều chỉnh hoặc quy định mâu thuẫn/chồng chéo, nhưng đã chủ động đột phá tháo gỡ điểm nghẽn vì lợi ích chung, không tham nhũng và đem lại hiệu quả thực tế thì cũng được loại trừ trách nhiệm hình sự.

- Tạm hoãn/Tạm đình chỉ tố tụng để khắc phục hậu quả (Điều 7 và Điều 9): Cơ chế “cho thời hạn khắc phục” với các trường hợp chưa hoàn thành dự án, chưa khắc phục xong hậu quả nhưng không tham nhũng, vì lợi ích chung và có khả năng/cam kết khắc phục, cơ quan tố tụng được ra quyết định tạm đình chỉ điều tra/xét xử/hoãn phiên tòa lên tới 02 năm.

Nếu khắc phục xong 100% hậu quả: Đình chỉ vụ án/bị can/bị cáo. Nếu không khắc phục xong: Tiếp tục xử lý hình sự, nhưng căn cứ vào tỷ lệ khắc phục và hiệu quả kinh tế - xã hội để quyết định giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

c) Chính sách nhân văn đối với người đã có bản án (Điều 10)

- Hoãn/Tạm đình chỉ chấp hành án (tối đa 2 năm): Áp dụng đối với người đã có bản án hoặc đang chấp hành án tù nhưng đáp ứng điều kiện không tham nhũng, cam kết khắc phục hậu quả.

- Miễn chấp hành hình phạt còn lại: Nếu khắc phục được toàn bộ hậu quả trong thời hạn tạm đình chỉ.

- Xóa án tích đặc biệt: Người đã chấp hành xong bản án chưa xóa án tích mà thuộc trường hợp vì lợi ích chung, không tham nhũng thì được miễn thời gian thử thách và đương nhiên được xóa án tích.

d) Xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang (Điều 11)

- Miễn xử lý kỷ luật: Trường hợp vi phạm kỷ luật nhưng đáp ứng điều kiện tại Điều 5, Điều 6 (không tham nhũng, vì lợi ích chung, hiệu quả thực tế, đã khắc phục hậu quả).

- Chưa xem xét kỷ luật (tối đa 2 năm): Áp dụng để cán bộ, công chức, viên chức có thời gian khắc phục hậu quả (vì lợi ích chung; không tham nhũng, vẫn có khả năng, điều kiện, phương án khả thi khắc phục). Sau thời hạn, nếu khắc phục xong sẽ xem xét miễn kỷ luật; nếu không khắc phục xong sẽ căn cứ tỷ lệ khắc phục để giảm nhẹ mức kỷ luật.

đ) Hiệu lực thi hành và Cơ chế bảo vệ người triển khai (Điều 12 và Điều 13)

- Thời gian áp dụng: Nghị quyết dự kiến có hiệu lực từ năm 2026 và thực hiện trong 03 năm

- Trường hợp đất đai: Các vi phạm kinh tế liên quan đến đất đai xảy ra trước khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực sẽ áp dụng theo Nghị quyết số 29/2026/QH16.

- Bảo vệ người làm chính sách/thực thi: Cán bộ tham gia xây dựng, thẩm định, triển khai Nghị quyết này được loại trừ, miễn trách nhiệm nếu đã tuân thủ đúng quy trình, không vụ lợi mà vẫn xảy ra thiệt hại.

- Chống lợi dụng chính sách: Xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng Nghị quyết để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bao che vi phạm hoặc nhũng nhiễu.

Việc xây dựng, sửa đổi các dự án luật nêu trên là một yêu cầu khách quan và cấp thiết, xuất phát từ các căn cứ chính trị, pháp lý và thực tiễn sâu sắc, nhằm cập nhật và cụ thể hóa các nghị quyết quan trọng của Đảng trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng, chống tội phạm, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước trong tình hình mới.

Tác giả bài viết: Tô Minh Đoàn - Phòng Tham mưu

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
hcm
 
06DieuBacHodayCAND
 
ĐƯỜNG DÂY NÓNG
  
lichtiepcongdan
Cổng bộ CA
 
congdvcbca
 
van ban phap luat
 
hop thu
 
chuyển đổi số
 
bộ pháp điển
 
Doi tuong truy na
 
thuviendientu
 
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập241
  • Máy chủ tìm kiếm38
  • Khách viếng thăm203
  • Hôm nay51,798
  • Tháng hiện tại1,646,638
  • Tổng lượt truy cập146,640,156
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
EMC Đã kết nối EMC