1. Đối tượng dẫn độ được quy định cụ thể và ứng dụng công nghệ thông tin trong chuyển, nhận hồ sơ dẫn độ
Theo Luật Dẫn độ số 100/2025/QH15, người có thể bị dẫn độ là người có hành vi phạm tội mà pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài quy định hình phạt tù có thời hạn từ 01 năm trở lên, tù chung thân hoặc tử hình hoặc đã bị tòa án của nước yêu cầu dẫn độ xử phạt tù mà thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người đó còn lại ít nhất 06 tháng. Nghị định số 167/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dẫn độ quy định yêu cầu dẫn độ và tài liệu kèm theo phải được số hóa và chuyển qua các phương tiện điện tử trong trường hợp yêu cầu dẫn độ và tài liệu kèm theo được tiếp nhận, chuyển giao trên môi trường điện tử.
2. Sáu điều kiện có thể được tiếp nhận và bốn trường hợp từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15 quy định người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam có thể được tiếp nhận khi có đủ sáu điều kiện: (1) Là công dân Việt Nam; (2) Hành vi phạm tội mà người đó bị kết án ở nước chuyển giao cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật về hình sự của Việt Nam vào thời điểm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; (3) Vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể ít hơn 01 năm; (4) Bản án, quyết định đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật, không còn thủ tục tố tụng nào đang chờ xử lý; (5) Có sự đồng ý của Việt Nam hoặc sự đồng ý của nước chuyển giao; (6) Có sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù, người đại diện hợp pháp. Bốn trường hợp từ chối tiếp nhận gồm: (1) Không phù hợp với nguyên tắc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; (2) Không đáp ứng một trong sáu điều kiện tiếp nhận; (3) Có thể phương hại đến chủ quyền, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng và lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam; (4) Vượt quá khả năng đáp ứng các yêu cầu cần thiết cho việc tiếp tục thi hành án tại Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù. Nghị định số 171/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù cũng nêu rõ các trường hợp từ chối tiếp nhận vì lý do việc tiếp nhận vượt quá khả năng đáp ứng các yêu cầu cần thiết cho việc tiếp tục thi hành án tại Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù như: các trại giam hoặc cơ sở y tế chuyên khoa không có đủ điều kiện về trang thiết bị, phác đồ điều trị hoặc thuốc đặc trị; hệ thống trại giam của Việt Nam không thể đáp ứng chế độ giam giữ, giám sát an ninh đặc biệt với công nghệ cao hoặc các điều kiện phòng ngừa đặc biệt; chi phí phát sinh vượt quá định mức chi ngân sách nhà nước theo quy định…
3. Quy định rõ phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự
Luật Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15 quy định 10 hình thức tương trợ tư pháp về hình sự gồm: (1) Tống đạt, giao, gửi văn bản tố tụng; (2) Khám xét, thu giữ; (3) Tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng, tài sản; (4) Tổ chức cho người ở nước được yêu cầu sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ; (5) Tổ chức cho người có thẩm quyền ở nước yêu cầu sang nước được yêu cầu để có mặt trong quá trình thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự; (6) Chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù ở nước được yêu cầu sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ; (7) Lấy lời khai trực tiếp, trực tuyến và các hình thức thu thập, cung cấp chứng cứ khác; (8) Chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự; (9) Trao đổi thông tin; (10) Các hình thức tương trợ khác.
4. Cá nhân có thể yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người thân hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp số 107/2025/QH15, cá nhân có thể yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình hoặc người mà mình giám hộ hoặc cá nhân có thể ủy quyền cho người khác làm thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ; trường hợp cần xác minh thì không quá 15 ngày. Nghị định số 216/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp quy định trong vòng 08 giờ làm việc sẽ gửi thông báo việc tiếp nhận hoặc không được tiếp nhận đối với hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến; trong vòng 01 giờ đối với hồ sơ yêu cầu trực tiếp và 01 ngày làm việc đối yêu cầu qua dịch vụ bưu chính kể từ khi nhận được hồ sơ.
5. Tăng cường bảo vệ trẻ em trên không gian mạng
Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 quy định trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin, tham gia hoạt động xã hội, vui chơi, giải trí, bảo vệ bí mật cá nhân, đời sống riêng tư và các quyền khác trên không gian mạng theo quy định của pháp luật; cha, mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm giám sát, quản lý nội dung trẻ em truy cập, đăng tải và chia sẻ thông tin; chủ quan hệ thống thông tin, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ giá trị gia tăng trên không gian mạng có các trách nhiệm: kiểm soát nội dung thông tin trên hệ thống thông tin hoặc trên dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp; ngăn chặn việc chia sẻ và xóa bỏ thông tin có nội dung gây nguy hại cho trẻ em hoặc xâm hại trẻ em hoặc xâm phạm quyền trẻ em; xây dựng, triển khai các hệ thống kỹ thuật hỗ trợ hoạt động ngăn chặn nội dung xâm hại trẻ em trên không gian mạng; phối hợp với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện ngăn chặn các nguồn phát tán thông tin xâm hại trẻ em trên không gian mạng; kịp thời thông báo, phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an để xử lý.
6. Đơn giản hóa thủ tục đăng ký thường trú
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự số 118/2025/QH15 quy định không cần sự đồng ý của chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đối với người dưới 6 tuổi đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình khi về ở với cha, mẹ, người giám hộ; bỏ “văn bản đồng ý cho giải quyết thường trú của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh của Bộ Công an” đối với các trường hợp người đăng ký thường trú quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 21 Luật Cư trú số 68/2020/QH14 là người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn quốc tịch Việt Nam.
7. Giám sát điện tử trong quản lý người nghiện ma túy và quy định cụ thể việc xác định tình trạng nghiện ma túy
Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15 quy định biện pháp giám sát điện tử là biện pháp sử dụng thiết bị điện tử để quản lý, giám sát đối với người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế; người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy. Nghị định số 163/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy quy định rõ quy trình thi hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử: trong thời hạn 24 giờ, cán bộ Công an cấp xã được giao nhiệm vụ thực hiện giám sát điện tử có trách nhiệm thi hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử và tiến hành đeo thiết bị giám sát lên cơ thể người bị giám sát; thông báo và gửi Quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử cho người bị giám sát; cha mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của người bị giám sát từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Luật số 120/2025/QH15 cũng nêu rõ việc xác định tình trạng nghiện ma túy được thực hiện đối với người thuộc 05 trường hợp: người tự nguyện; người đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện; đang trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy hoặc người đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy; người sử dụng trái phép chất ma túy không có nơi cư trú ổn định. Nghị định số 166/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy quy định cụ thể địa điểm xác định tình trạng nghiện ma túy gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có phạm vi hoạt động chuyên môn về chuyên khoa nội hoặc chuyên khoa tâm thần hoặc y học gia đình; cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, điều trị nghiện các chất khác; cơ sở giám định pháp y tâm thần; nơi tạm giữ hành chính đối với người bị tạm giữ theo thủ tục hành chính quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính; cơ sở y tế xác định tình trạng nghiện ma túy hoặc địa điểm do cơ quan Công an cấp xã hoặc cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy thống nhất với cơ sở y tế lựa chọn đối với người không bị tạm giữ theo thủ tục hành chính.
8. Phạm nhân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể
Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15 quy định phạm nhân có quyền được hiến mô, bộ phận cơ thể khi bảo đảm đủ các điều kiện theo quy định như: tự nguyện; hiến cho người thân thích của phạm nhân; đủ điều kiện sức khỏe; tự chịu các chi phí; là người bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thời gian chấp hành án còn lại dưới 03 năm. Nghị định số 170/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án hình sự cũng nêu rõ trình tự, thủ tục giải quyết trường hợp phạm nhân có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người: (1) Phạm nhân thuộc trường hợp quy định viết đơn tự nguyện hiến mô, bộ phận cơ thể người; (2) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được đơn của phạm nhân và tài liệu quy định, người có thẩm quyền kiểm tra đối chiếu điều kiện theo quy định để xem xét, giải quyết; (3) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản của cơ sở y tế xác nhận phạm nhân đủ điều kiện, cơ sở giam giữ phạm nhân hoàn thiện hồ sơ báo cáo Cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định; (4) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ, Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, quyết định và trả lời bằng văn bản về việc đồng ý hoặc không đồng ý cho phạm nhân hiến mô, bộ phận cơ thể người; (5) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản đồng ý của Cơ quan có thẩm quyền, cơ sở giam giữ phạm nhân phối hợp với cơ sở y tế có đủ điều kiện lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người tổ chức thực hiện các trình tự, thủ tục, chế độ, chính sách đối với phạm nhân hiến mô, bộ phận cơ thể người theo quy định của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác…
9. Bảo đảm chế độ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15 và Nghị định số 213/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú quy định cụ thể chế độ ăn, ở, mặc và tư trang của người bị tạm giữ, tạm bị giam như: tiêu chuẩn định lượng về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ sinh hoạt để bảo đảm sức khỏe; được bảo đảm điện, nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày; được sử dụng quần áo, chăn, chiếu, màn và các đồ dùng cần thiết cho sinh hoạt của cá nhân; được cấp xà phòng, dầu gội, kem đánh răng; nếu là phụ nữ thì được cấp thêm đồ dùng cần thiết cho vệ sinh của phụ nữ trị giá tương đương 02 kg gạo tẻ/người/tháng; ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật được ăn thêm bằng 05 lần định mức ăn ngày thường; được sử dụng tiền gửi lưu ký để mua đồ ăn thêm; tiêu chuẩn diện tích chỗ nằm tối thiểu là 02 m2, được bố trí sàn nằm và có chiếu.
Ngoài ra, 05 nghị định sau cũng có hiệu lực từ ngày 01/7/2026:
(1) Nghị định số 160/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự.
(2) Nghị định số 172/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết chi phí thực hiện và kinh phí bảo đảm công tác dẫn độ, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, công tác tương trợ tư pháp về hình sự.
(3) Nghị định số 203/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc.
(4) Nghị định số 231/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án hình sự tại cộng đồng.
(5) Nghị định số 236/2026/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 151/2024/NĐ-CP ngày 15/11/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ./.