Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết của Đại hội XIV của Đảng, sớm đưa tinh thần của Nghị quyết vào cuộc sống thì trên mạng xã hội xuất hiện không ít các luận điệu, ý kiến tiêu cực, xuyên tạc với các thủ đoạn mới nhắm vào công tác nhân sự của Đảng và việc triển khai quán triệt, học tập nghị quyết, chủ trương cải cách, đổi mới quản trị, điều hành hệ thống chính trị cũng như sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đòi hỏi cần phải được nhận diện và đấu tranh phản bác, góp phần xây dựng cho môi trường thông tin tuyên truyền trên không gian mạng xã hội được an toàn, lành mạnh.
Thứ nhất là một số ý kiến, luận điệu sai tiêu cực và thù địch tập trung tạo tâm lý rằng mọi quyết định nhân sự của Đảng và Nhà nước ta đều là kết quả của âm mưu phe phái, rằng hệ thống vận hành chỉ dựa trên “quân cờ” và “thỏa hiệp hậu trường” thông qua việc dựng lên những “nước cờ”, “quân sư”, “phe cánh”, “triệt hạ”, “chầu triều” như tiểu thuyết cung đấu để mô tả quá trình vận động nhân sự cấp cao như một vở kịch quyền lực đậm màu sắc âm mưu và Việt Nam đang diễn ra một “cuộc đại dàn xếp quyền lực vô tiền khoáng hậu”, trong đó cái gọi là “phe Công an” thâu tóm quyền lực, còn “phe Quân đội” phản kháng ngầm đồng thời cố tình mô tả những thay đổi nhân sự cấp cao thời gian qua như kết quả của “triệt hạ”, “bẻ ghế”, “bóp mũi cho đi gặp Mác”, đánh đồng công tác kỷ luật, miễn nhiệm hoặc thay đổi vị trí công tác với thanh trừng phe phái, cho rằng chiến dịch phòng, chống tham nhũng chỉ là công cụ “đốt lò để thâu tóm ghế”; dựng lên các “xu hướng nội bộ” với cách phân loại mơ hồ: “nhóm thủ cựu”, “nhóm mở rộng ngoại lệ” và “lực lượng cơ hội chọn phe” nhưng hoàn toàn không đưa ra bằng chứng cụ thể nào về sự tồn tại của các “phe phái” như vậy… qua đó làm xói mòn niềm tin của công chúng vào tính chính danh của quy trình bầu chọn. Thực tế, không có chuyện một cá nhân đơn lẻ có thể “một tay dàn xếp”, “dùng người này làm quân cờ để triệt hạ người kia” đồng thời cần khẳng định rằng công tác cán bộ vốn là công việc có tính nguyên tắc, được chuẩn bị nhiều năm, qua nhiều vòng rà soát, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, luân chuyển. Các chức danh từ cấp cao hay cơ sở đều được tập thể cấp ủy các cấp bầu, giới thiệu hoặc phê chuẩn theo quy trình nhiều bước, có thẩm định, có lấy ý kiến, có bỏ phiếu tín nhiệm; mỗi bước đều có tập thể quyết định, không phải là kết quả của một cuộc “bắt tay bí mật” giữa hai cá nhân hoặc sự “dàn xếp của một cá nhân nào”. Mặt khác, không thể gán ghép mỗi cán bộ có xuất thân nghề nghiệp hay địa phương thành một “phe” cố định bởi vì mỗi cán bộ hoạt động trong một chỉnh thể tổ chức thống nhất dưới sự lãnh đạo chung của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong những năm gần đây, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được đẩy mạnh với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; nhiều cán bộ cấp cao đã bị xử lý kỷ luật, miễn nhiệm, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự khi có vi phạm; điều này phản ánh quyết tâm làm trong sạch bộ máy, củng cố kỷ luật, kỷ cương chứ không phải là cuộc thanh trừng phe phái; khi kỷ luật được thực hiện nghiêm minh và diễn ra trên diện rộng, không phân biệt nguồn gốc ngành hay địa phương, đó là biểu hiện của sự thượng tôn kỷ luật và pháp luật, không phải là “cuộc chơi quyền lực”. Thứ hai là thời gian qua, các ý kiến, luận điệu tiêu cực và thù địch chú trọng sử dụng lối kể chuyện giật gân, tạo vỏ bọc khách quan qua viện dẫn “theo giới quan sát quốc tế” xem như một “thẩm quyền vô hình” để tăng thính thuyết phục; thủ pháp ẩn danh và ám chỉ tạo cảm giác “nội tình thâm cung bí sử”, “tin rò rỉ hậu trường” khiến người đọc có cảm giác mình đang tiếp cận thông tin mật; sử dụng chiêu “tự nhận từng là đảng viên đã bỏ sinh hoạt” để tạo cảm giác mình là “người trong cuộc hiểu rõ nội tình”; sử dụng ngôn ngữ học thuật pha trộn với các giả định không được kiểm chứng để tạo cảm giác khách quan, trung lập, nhất là lối lập luận giả định chuỗi không dựa trên bằng chứng thực tế mà chỉ dựa trên suy đoán chủ quan cá nhân mà không căn cứ vào dữ liệu, xu hướng kinh tế – xã hội cụ thể; dùng ký hiệu thay tên, dùng biệt danh thay chức danh như ký hiệu “X”, tạo ra không gian mơ hồ để người đọc tự suy diễn; cố tình “cung đấu hóa” chính trị để tạo kịch tính khi biến một quá trình chính trị, tổ chức phức tạp thành câu chuyện mưu mô cá nhân và dưới lớp vỏ của những câu chuyện “hậu trường”, lấy suy đoán thay cho chứng cứ, lấy ẩn ý thay cho thông tin kiểm chứng và lấy ngôn từ kích động để dẫn dắt cảm xúc người đọc; đánh tráo khái niệm về việc chỉ có một ứng cử viên đồng nghĩa với “mất dân chủ”, cố tình đồng nhất cơ chế lựa chọn nhân sự trong một đảng chính trị với mô hình bầu cử phổ thông trong chế độ đa đảng hoặc sự đồng thuận cao với “áp đặt”, nhìn vào kết quả cuối cùng của một cuộc bỏ phiếu mà bỏ qua toàn bộ quá trình chuẩn bị phía trước và quy trình bầu cử, cố ý cắt khúc thông tin để tạo cảm giác “bất thường”. Đây là những thủ thuật rất quen thuộc trên mạng xã hội để xuyên tạc, bôi nhọ lãnh đạo, xuyên tạc công tác cán bộ và gieo rắc tâm lý hoài nghi vào xã hội về nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức; thực tế có thể khẳng định rằng khi không có tên đầy đủ, không có văn bản, không có phát ngôn chính thức, thì mọi cáo buộc chỉ là câu chuyện kể mang tính chủ quan; đó không phải phản biện chính trị, mà là sản phẩm của suy đoán và thuyết âm mưu; đồng thời tập trung dân chủ không phải là “dân chủ vô tổ chức” hay “đa ứng viên bắt buộc” theo mô hình cạnh tranh đa đảng phương Tây, mà là sự kết hợp giữa thảo luận dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể với quyết định tập trung thống nhất trên cơ sở đa số. Thứ ba là để tăng tính thuyết phục, các ý kiến và luận điệu này quan tâm xây dựng hình ảnh lãnh đạo Đảng, Nhà nước như một cá nhân “mưu mô, thủ đoạn, thao túng”, xu hướng “chuyển dịch” sang tập trung “quyền lực tuyệt đối”, nhấn mạnh yếu tố “ngoại lệ trở thành tiền lệ” để tạo cảm giác rằng những nguyên tắc nền tảng đang bị phá vỡ; cá nhân hóa toàn bộ tiến trình phát triển quốc gia vào một người để hướng lái tới câu chuyện “Điều lệ Đảng hay Hiến pháp bị thay đổi theo hướng trao quyền cá nhân vô hạn”; thậm chí gán ghép những hành vi như “nhờ dùng mối quan hệ với Hoa Nam để sắp xếp một cuộc chầu triều Bắc Kinh sớm để ra mắt và hứa hẹn”, “xin Bắc Kinh để xử lý nội bộ”, gợi ý rằng mọi chuyển động chính trị nội bộ đều chịu chi phối từ bên ngoài, “dùng tướng lĩnh phía Nam uy hiếp người khác”; sử dụng ngôn từ miệt thị, biệt danh, ám chỉ đời tư và quan hệ gia đình của lãnh đạo như dựng chuyện “con của X ngồi hai ghế ngon bổ dưỡng”, tạo dựng hình ảnh “phe Hưng Yên phủ sóng nhân sự” ám chỉ sự thiên vị vùng miền kết hợp cố tình đặt ra hai “kịch bản” đất nước đang đứng trước bờ vực định mệnh; đánh đồng giữa quản lý nhà nước và trấn áp chính trị … mà không đưa ra bất kỳ tài liệu, văn bản cụ thể nào để gieo rắc hoài nghi, kích động tâm lý bất an và thúc đẩy cách nhìn bi quan về tương lai đất nước, khơi gợi liên tưởng đến mô hình độc tài cá nhân trong lịch sử thế giới, từ đó dẫn dắt người đọc tới những so sánh tiêu cực. Theo Điều lệ Đảng và Hiến pháp hiện hành, mọi chức danh trong hệ thống chính trị Việt Nam đều hoạt động theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; các quyết định chiến lược phải được thông qua tập thể Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương và Quốc hội; không có bất kỳ cơ chế pháp lý nào trao “quyền lực tuyệt đối” cho một cá nhân. Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia có chủ quyền, được triển khai thông qua các kênh chính thức giữa Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội, dựa trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp công việc nội bộ; không có chuyện cá nhân lãnh đạo Đảng, Nhà nước “xin phép” nước ngoài để xử lý công việc nội bộ. Như vậy, có thể thấy các ý kiến, luận điệu trên đều dựa trên sự pha trộn giữa suy diễn chủ quan, ẩn dụ kịch tính và so sánh khập khiễng nhằm xây dựng một bức tranh quyền lực đầy âm mưu; mục đích hướng đến là phủ nhận tính chính danh của Đại hội XIV; cá nhân hóa, quy chụp quyền lực tuyệt đối cho Tổng Bí thư Tô Lâm và kích động tâm lý lo sợ về tương lai bằng những kịch bản cực đoan là không thể chấp nhận được. Các ý kiến, luận điệu như vậy có thể lan truyền nhanh, làm cho xã hội dễ rơi vào trạng thái hoài nghi cực đoan, khiến mọi chính sách, mọi quyết định đều bị nhìn qua lăng kính ngờ vực; do đó trong bối cảnh thông tin đa chiều, việc nâng cao khả năng nhận diện và phản bác các ý kiến, luận điệu như vậy là hết sức cần thiết. Người đọc cần đặt ra những câu hỏi cơ bản như nguồn tin này có từ đâu? Có văn bản nào chứng minh? Có phát ngôn chính thức nào xác nhận hay chỉ là lời kể ẩn danh? Khi một bài viết sử dụng nhiều từ ngữ kích động nhưng thiếu dẫn chứng cụ thể, đó là dấu hiệu rõ ràng của thông tin không đáng tin cậy và điều cần thiết nhất là sự tỉnh táo, không chia sẻ, không tiếp tay cho tin như vậy, không để cảm xúc bị dẫn dắt bởi ngôn từ giật gân. Niềm tin của xã hội phải được xây dựng trên thông tin chính thống, trên kết quả thực tế của công tác lãnh đạo, điều hành và trên cơ chế pháp luật, kỷ luật rõ ràng. Phản bác những luận điệu xuyên tạc không chỉ là bảo vệ danh dự của một cá nhân lãnh đạo, mà còn là bảo vệ sự nghiêm minh của thể chế và sự ổn định của môi trường chính trị – xã hội. Trong một xã hội pháp quyền, mọi đánh giá, phê bình đều cần dựa trên sự thật.
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trong ảnh: Đại biểu dự tại điểm cầu Hội trường Diên Hồng - Nhà Quốc hội